Tag: huyettuonggiautieucau

  • Huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị loét bàn chân do tiểu đường: Phân tích đa trung tâm (Meta-analysis)

    Huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị loét bàn chân do tiểu đường: Phân tích đa trung tâm (Meta-analysis)

    Loét bàn chân là một biến chứng phổ biến của bệnh tiểu đường và thường dẫn đến hệ quả cắt cụt chi dưới. Trong số các phương pháp giúp làm lành vết loét, việc sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu đang trở nên phổ biến, đây là một phương pháp mô phỏng quá trình lành thương tự nhiên của cơ thể nhờ vào sự có mặt các nhân tố tăng trưởng và cytokine trong huyết tương giàu tiểu cầu PRP. Một bài tổng quan phân tích hệ thống với phân tích đa trung tâm nhằm đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả lâm sàn của phương pháp điều trị loét bàn chân bằng huyết tương giàu tiểu cầu, dữ liệu so sánh với các phương pháp điều trị thường quy khác hoặc các liệu pháp thay thế khác. Thông tin được thu thập từ cơ sở dữ liệu điện tử Medline, EMBASE, CINAHL và thư viện Cochrane đến tháng 3 năm 2017 mà không bị hạn chế về ngày xuất bản. Một số tiêu chí được đưa ra trước để áp dụng đối với các nghiên cứu để đánh giá phương pháp luận của chúng. Tám thử nghiệm lâm sàn ngẫu nhiên và hai nghiên cứu theo chiều dọc có đối chứng được quan sát. Điều trị với huyết tương giàu tiểu cầu cho thấy tốc độ lành thương cấp tính được đẩy nhanh (RR= 1.32; 95% CI:1.11, 1.57, I 2 = 15%) với diện tích của vết loét (MD = MD = 0.12 cm2 ; 95% CI: 0.08, 0.16; p < 0.01; I 2 = 0%) và thời gian lành thương hoàn toàn (MD = −11.18 days; 95% CI: −20.69, −1.68; I 2 = 53%) giảm thiểu. Theo dữ liệu an toàn, điều trị bằng huyết tương giàu tiểu cầu không có sự khác biệt so với các phương pháp thường quy khác trong biến chứng vết thương (RR = 0.57; 95% CI: 0.25, 1.28; I 2 = 0%) hoặc bị tái phát (RR = 2.76; 95% CI: 0.23, 33.36; p = 0.43; I 2 = 82%), tuy nhiên có làm giảm mức độ của những biến cố bất lợi (RR = 0.80; 95% CI: 0.66, 0.96; p = 0.02; I 2 = 0%). Có phân tích tổng hợp tích lũy cho thấy đủ bằng chứng để chứng minh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong hiệu quả. Nhưng trong đó lại có nghiên cứu tồn tại sai sót nghiêm trọng về phương pháp. Tuy nhiên kết quả nhìn chung cho thấy, huyết tương giàu tiểu cầu có thể được coi là một phương pháp điều trị tiềm năng cho các vết loét không lành bàn chân do tiểu đường.


    Bài viết được chuyển ngữ từ tổng quan nghiên cứu của Del Pino-Sedeño T, Trujillo-Martín MM, Andia I, Aragón-Sánchez J, Herrera-Ramos E, Iruzubieta Barragán FJ, Serrano-Aguilar P. Platelet-rich plasma for the treatment of diabetic foot ulcers: A meta-analysis. Wound Repair Regen. 2019 Mar;27(2):170-182. doi: 10.1111/wrr.12690. Epub 2018 Dec 21. PMID: 30575212.

    Địa chỉ bài viết gốc: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30575212/

  • Nhãn hàng Regenmedlab thu hút nhiều khách tham quan tại VietNam Medi-Pharm Expo 2023

    Nhãn hàng Regenmedlab thu hút nhiều khách tham quan tại VietNam Medi-Pharm Expo 2023

    Ngày 3-5/8 vừa qua, nhãn hàng Regenmedlab của Viện tế bào gốc đã tham dự triển lãm y dược Medi-Pharm Expo 2023 do Bộ Y Tế chủ trì.

    Với hơn 200 lượt đón khách tham quan gian hàng và 50 khách mời tham dự buổi hội thảo chuyên ngành New Era of Stem Cell and Exosome Applications in Regenerative Medicine do PGS. TS. Phạm Văn Phúc trình bày. Triển lãm đã khép lại với nhiều thành công tốt đẹp với nhãn hàng Regenmedlab khi được gặp gỡ, giới thiệu với quý khách tham quan nhiều công nghệ và sản phẩm độc đáo về y học tái tạo của nhãn hàng cũng như hệ sinh thái của Viện tế bào gốc.

    Qua đây, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn hơn 200 khách tham quan gian hàng sản phẩm của Regenmedlab. Hy vọng với những lần gặp gỡ tiếp theo chúng tôi có thể mang lại cho quý khách hàng thật nhiều công nghệ và sản phẩm chất lượng và độc đáo hơn nữa.

    Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ Viện tế bào gốc:

    Hotline: 086 92 03 153

    Email: kinhdoanh@sci.edu.vn

    Địa chỉ: Viện tế bào gốc, khu phố 6, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

    Một số hình ảnh tại sự kiện:

    Tin và ảnh: Phòng Kinh doanh và Marketing

  • Hiệu quả của phương pháp cắt dây thần kinh khớp gối bằng sóng cao tần so với huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị viêm khớp đầu gối mãn tính

    Hiệu quả của phương pháp cắt dây thần kinh khớp gối bằng sóng cao tần so với huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị viêm khớp đầu gối mãn tính

    Đặt vấn đề

    Thoái hóa khớp gối mãn tính là một vấn đề phổ biến cùng với sự gia tăng của dân số già. Xung cao tần (PRF) và tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) trong điều trị khớp là những phương thức có mang lại hiệu quả đã được chứng minh rõ ràng để giảm đau ở những nhóm bệnh nhân cao tuổi.

    Mục tiêu

    Mục tiêu chính trong nghiên cứu này là so sánh 2 phương thức liên quan đến giảm đau được đánh giá bằng thang đo VAS (visual analog scale). Mục tiêu phụ tập trung vào sự thay đổi của Chỉ số Lequesne.

    Thiết kế nghiên cứu: Single-blind randomized interventional clinical trial.

    Bối cảnh: Bệnh viện đại học.

    Phương pháp

    Hai trăm bệnh nhân thoái hóa khớp gối mãn tính được phân bố ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Nhóm PRF nhận được xung cao tần, trong khi nhóm PRP nhận được huyết tương giàu tiểu cầu nội khớp. Thang đo VAS và chỉ số Lequesne được đánh giá trước can thiệp, sau một tuần (chỉ dành cho thang VAS), sau 3, 6 và 12 tháng.

    Kết quả

    Thang đo VAS ở nhóm PRF thấp hơn đáng kể so với nhóm PRP sau 6 và 12 tháng với giá trị P lần lượt là 0,01 và 0,04. Liên quan đến chỉ số sau can thiệp về mức độ nghiêm trọng của viêm xương khớp, nhóm PRF thấp hơn đáng kể so với nhóm PRP với giá trị P là 0,001 sau 3, 6 và 12 tháng theo dõi.

    Hạn chế

    Vật lý trị liệu và giảm đau không được đưa vào thu thập dữ liệu và không có nhóm đối chứng.

    Kết luận

    PRF thể có thể được xem là vượt trội so với tiêm huyết tương giàu tiểu cầu vào khớp gối để giảm đau kéo dài và chỉ số mức độ nghiêm trọng thấp hơn ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối mãn tính.

    Lược dịch từ tổng quan của nghiên cứu Elawamy, Abdelraheem et al. “Efficacy of Genicular Nerve Radiofrequency Ablation Versus Intra-Articular Platelet Rich Plasma in Chronic Knee Osteoarthritis: A Single-Blind Randomized Clinical Trial.” Pain physician vol. 24,2 (2021): 127-134.

  • Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu nhiều lần vượt trội hơn so với tiêm PRP một lần hoặc nước muối trong viêm khớp gối

    Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu nhiều lần vượt trội hơn so với tiêm PRP một lần hoặc nước muối trong viêm khớp gối

    Giới thiệu

    Mục đích chính của nghiên cứu này nhằm chứng minh hiệu quả của liệu pháp tiêm PRP đối với chứng đau đầu gối và các chức năng bằng so sánh bệnh nhân bị viêm khớp nhẹ đến trung bình được tiêm PRP với nhóm đối chứng giả dược và cũng để hiểu hiệu quả của nhiều liều so với một liều duy nhất. Người ta đưa ra giả thuyết rằng PRP sẽ cho hiệu quả hơn so với giả dược sau 1, 3, 6, 12 và 24 tháng sau khi điều trị.

    Vật liệu và phương pháp

    237 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh viêm khớp được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm như sau: một liều PRP (n: 62), một liều nước muối natri (NS) (n: 59), ba liều PRP (n: 63) và ba liều NS (n: 53). Đánh giá lâm sàng được thực hiện trước và sau điều trị từ 1, 3, 6, 12 và 24 tháng, sử dụng Điểm kết quả chấn thương đầu gối và viêm xương khớp (KOOS), Điểm Kujala Patellofemoral, phạm vi chuyển động khớp gối (ROM), đo lường chu vi đầu gối (KC), và góc trục cơ học (MAA) và Thang đo tương tự trực quan (VAS) để đánh giá cơn đau.

    Kết quả

    Giá trị điểm tốt hơn trong các nhóm được ghi nhận vào thời điểm 3 và 6 tháng. Bệnh nhân được điều trị bằng PRP duy trì điểm số tốt hơn sau 3, 6 và 12 tháng so với nhóm NS (p <0,05). Nhiều liều PRP được cho là hiệu quả hơn PRP một liều sau 6 và 12 tháng (p <0,05). Vào cuối tháng thứ 24, không có sự khác biệt đáng kể về điểm giữa tất cả các nhóm. Sự thay đổi tích cực nhất về điểm số được tìm thấy ở bệnh viêm khớp giai đoạn 2 và thay đổi tích cực nhất về ROM là ở bệnh nhân viêm khớp giai đoạn 3. Trong các nhóm PRP, KC giảm nhiều hơn sau 1 và 6 tháng (p <0,05). So với các nhóm tuổi khác, bệnh nhân 51-65 tuổi có kết quả tốt hơn sau 6 tháng (p < 0,05). Một mối tương quan âm đã được xác định với điểm MAA (r = – 0,508, p <0,001).

    Kết luận

    So với giả dược (NS), điều trị PRP giàu bạch cầu được xác định là có hiệu quả trong điều trị viêm khớp. Nhiều liều PRP làm tăng hiệu quả và thời gian điều trị. Trong số tất cả các bệnh nhân được điều trị bằng PRP, kết quả tốt nhất đạt được ở những bệnh nhân ở độ tuổi 51-65, với MAA thấp hơn và bệnh nhân viêm khớp giai đoạn 2 K/L.

    Thiết kế nghiên cứu

    Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng; Mức độ bằng chứng, 1.

    Lược dịch từ tổng quan của nghiên cứu: Yurtbay, Alparslan et al. “Multiple platelet-rich plasma injections are superior to single PRP injections or saline in osteoarthritis of the knee: the 2-year results of a randomized, double-blind, placebo-controlled clinical trial.” Archives of orthopaedic and trauma surgery vol. 142,10 (2022): 2755-2768. doi:10.1007/s00402-021-04230-2

  • Liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) – một cải tiến trong y học sinh sản

    Liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) – một cải tiến trong y học sinh sản

    Trung tâm hỗ trợ Sinh sản Gruzia – Đức, là một trong những trung tâm tiên phong trong lĩnh vực Y học Sinh sản giới thiệu liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu, mang lại hy vọng cho nhiều phụ nữ hiếm muộn.

    Phương pháp PRP là gì và nó sẽ làm tăng hiệu quả điều trị vô sinh đến mức nào?

    Không nhiều phương pháp điều trị trong y học vừa có thể đạt được hiệu quả điều trị trong các lĩnh vực khác nhau, vừa sẵn có, an toàn và hiệu quả đồng đều. Liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) là một trong những phương pháp điều trị cải tiến hiếm hoi đó trong y học hiện đại có tác dụng giảm đau, chống viêm, làm trẻ hóa và phục hồi các mô ở cấp độ tế bào. Liệu pháp PRP đã và đang được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực thẩm mỹ, chỉnh hình, thần kinh, chấn thương, v.v. Ngoài ra PRP hiện đã được giới thiệu trong phụ khoa, y học sinh sản và tiết niệu.

    Phương pháp PRP sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu được sử dụng lần đầu tiên cách đây gần ba thập kỷ. Và trong vài năm gần đây, các bác sĩ đã bắt đầu sử dụng phương pháp này để điều trị các vấn đề về tiết niệu, sinh sản và phụ khoa. Phương pháp này không sử dụng thuốc, phẫu thuật xâm lấn hoặc thiết bị y tế đắt tiền. Huyết tương giàu tiểu cầu được lấy từ máu tĩnh mạch ngoại vi của chính bệnh nhân, sau khi ly tâm và xử lý thích hợp, huyết tương được sử dụng dưới dạng vi tiêm vào các cơ quan cần trợ giúp. Chứa nồng độ cao hormone, peptide, vitamin và các yếu tố tăng trưởng, liệu pháp PRP có khả năng kích thích tăng trưởng mô, chống viêm, giảm đau, đơn giản, giúp duy trì dự trữ cụ thể ở một vùng cụ thể của cơ thể.

    Những ưu điểm của liệu pháp PRP trong y học sinh sản, phụ khoa và tiết niệu có thể được tóm tắt như sau: phạm vi sử dụng khá rộng, một số lựa chọn thay thế cho liệu pháp hormone, giá thành thấp, tác dụng phụ thấp, biến chứng và rủi ro nguy hiểm cực thấp. Điều đặc biệt hơn nữa liệu pháp PRP không mất nhiều thời gian. Do đặc tính giúp kích thích và “làm trẻ hóa” của PRP, chức năng của buồng trứng được tái kích hoạt, giúp cải thiện chất lượng trứng và do đó, cải thiện khả năng sinh sản của bệnh nhân.

    PRP có thể đạt được thành công tương tự trong điều trị các bệnh phụ khoa mãn tính như chứng lichen xơ hóa, xói mòn cổ tử cung và bạch sản, viêm vòi trứng mãn tính và viêm nội mạc tử cung, và quan trọng hơn là vô sinh do hiếm nang.

    Lược dịch từ: https://ivfggrc.com/platelet-rich-plasma-prp-therapy-an-innovation-in-reproductive-medicine-to-combat-infertility/

  • Bơm huyết tương giàu tiểu cầu với niêm mạc tử cung mỏng (PRP)

    Bơm huyết tương giàu tiểu cầu với niêm mạc tử cung mỏng (PRP)

    Là một trong những trung tâm hỗ trợ sinh sản đầu tiên được cấp phép chính thức trong việc nghiên cứu và ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân để cải thiện độ dày của niêm mạc tử cung, tăng tỷ lệ thành công trong thụ tinh ống nghiệm; IVF Bưu Điện kỳ vọng sẽ hiện thực hóa ước mơ con của rất nhiều bệnh nhân vô sinh hiếm muộn sẽ sớm trở thành sự thật…

    Niêm mạc tử cung là gì?

    Niêm mạc tử cung – hay còn được gọi là nội mạc tử cung – là lớp phủ toàn bộ bề mặt phía trong của tử cung, có cấu tạo gồm 2 phần là lớp đáy và lớp nông. Lớp đáy – hay nội mạc căn bản – là các tế bào mô trụ tuyến và mô đêm, không chịu nhiều biến đổi của chu kỳ kinh nguyệt. Lớp nông – hay nội mạc tuyến – chịu sự tác động lớn trong thời kỳ kinh nguyệt.

    Niêm mạc tử cung đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình thụ thai và mang thai ở người phụ nữ. Niêm mạc tử cung quá dày hoặc quá mỏng có thể là nguyên nhân gây khó thụ thai, hiếm muộn ở nữ giới.

    Lớp niêm mạc tử cung dưới sự tác động của hormone sinh dục nữ sẽ trở nên dày lên tùy theo từng thời điểm cụ thể trong tháng, phụ thuộc vào chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ.

    Giai đoạn nội mạc tử cung sẵn sàng tiếp nhận phôi được gọi là “cửa sổ làm tổ” và kéo dài khoảng 3-4 ngày. Nội mạc tử cung tăng sinh trở nên dày hơn, tái phân bố mạch máu và các tuyến cuộn xoắn, tăng tiết dịch. Những thay đổi này đạt cực đại khoảng 7 ngày sau phóng noãn. Nếu không có thai, những tế bào này sẽ bong ra trong mỗi kỳ kinh nguyệt.

    Ảnh hưởng của niêm mạc tử cung mỏng tới khả năng mang thai

    Để có được một chu kỳ thụ tinh ống nghiệm thành công, bên cạnh chất lượng của phôi thì việc chuẩn bị các điều kiện của người mẹ để đảm bảo việc làm tổ, phát triển phôi là hết sức quan trọng. Một trong những điều kiện này là yêu cầu độ dày niêm mạc tử cung phù hợp. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu niêm mạc tử cung tại thời điểm chuyển phôi mỏng hơn 7mm thì tỷ lệ thất bại sẽ rất cao. Ngay cả khi thai nhi đã làm tổ thì khả năng giữ lại thai trong tử cung trong suốt quá trình mang thai vẫn rất khó khăn bởi lớp niêm mạc tử cung mỏng quá mức sẽ không đủ khả năng giữ phôi thai lại. Hậu quả là dẫn tới nguy cơ trạng sảy thai hoặc thai lưu.

    Niêm mạc tử cung mỏng là do quá trình phát triển của niêm mạc tử cung bị suy giảm, có thể do nhiều yếu tố mà phổ biến là do viêm nhiễm hay do hậu quả của quá trình điều trị liên quan đến tử cung. Đó có thể do hậu quả của phẫu thuật như nạo phá thai nhiều lần, cắt bỏ polyp, phẫu thuật nội soi tử cung cũng như liệu pháp sử dụng thuốc không hợp lý, hoặc cũng có thể do cấu trúc niêm mạc tử cung của bệnh nhân bị mỏng do yếu tố bẩm sinh.

    Chính vì vậy, để cải thiện độ dày của niêm mạc tử cung, nhiều liệu pháp đã được áp dụng tại các đơn vị Hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam để giúp niêm mạc tử cung đạt độ dày “lý tưởng” như theo dõi chu kỳ tự nhiên, sử dụng thuốc nội tiết ngoại sinh, kích thích buồng trứng…Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp niêm mạc tử cung không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với các liệu pháp trên dẫn tới niêm mạc tử cung phát triển không đầy đủ. Chính vì vậy, việc phát triển các kỹ thuật mới, liệu pháp mới để điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân này là hết sức cần thiết.

    Ths.Bs. Vương Vũ Việt Hà – PGĐ Trung tâm hỗ trợ sinh sản bệnh viện Bưu Điện đang đọc kết quả cho người bệnh

    Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân – vũ khí mới giúp cải thiện độ dày niêm mạc tử cung

    Theo định nghĩa, huyết tương giàu tiểu cầu là huyết tương có lượng tiểu cầu nhiều gấp 2-10 lần so với huyết tương bình thường và có nhiều yếu tố tăng trưởng và cytokine. Huyết tương giàu tiểu cầu thu được thông qua quá trình lấy máu tự thân, xử lý mẫu máu, quay ly tâm và thu được. PRP không chỉ thúc đẩy việc loại bỏ các mô bị thoái hóa và hoại tử, mà còn kích thích sự tái tạo mô và lành hóa.

    Việc sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) tự thân để điều trị niêm mạc tử cung mỏng đã được thử nghiệm lâm sàng thành công ở nhiều quốc gia.

    Huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) tự thân là chế phẩm sinh học tương thích nhất với cơ thể người bệnh và tránh được tình trạng thải ghép

    Trường hợp nào nên sử dụng kỹ thuật bơm huyết tương giàu tiểu cầu?

    – Bệnh nhân có độ dày nội mạc tử cung < 7 mm của chu kỳ chuyển phôi đông lạnh sau khi đã sử dụng phác đồ chuẩn bị niêm mạc bằng thuốc theo phác đồ của bệnh viện.

    – Bệnh nhân bị thất bại làm tổ liên tiếp có nguyên nhân do niêm mạc tử cung mỏng.

    Link bài viết gốc: https://ivfbuudien.vn/bom-huyet-tuong-giau-tieu-cau/

  • Liệu pháp PRP điều trị tổn thương cơ, xương, phần mềm do tai nạn và chơi thể thao

    Bài viết bởi ThS. Nguyễn Đắc Tú, Trưởng nhóm Đánh giá Chất lượng Sản phẩm và ThS. Phạm Thị Thanh, Chuyên viên Đánh giá Chất lượng Sản phẩm – Trung tâm Công nghệ cao Vinmec

    Huyết tương giàu tiểu cầu đã được ứng dụng điều trị trong nhiều lĩnh vực y học khác nhau và đã đem lại những tín hiệu rất khả quan. Từ những lợi ích đó, điều trị tổn thương cơ, xương, phần mềm do tai nạn và chơi thể thao bằng liệu pháp PRP ( huyết tương giàu tiểu cầu) ngày càng được quan tâm nhiều hơn nữa.

    1. Chấn thương xương khớp và mô mềm do tai nạn và chơi thể thao

    Theo WHO, chấn thương xương khớp là một trong những nguyên nhân chính gây ra các cơn đau kéo dài, gây tàn tật, ảnh hưởng nghiêm trọng cả về thể chất và tinh thần cho hàng triệu người trên thế giới. Theo thống kê khoảng 100 triệu ca chấn thương xương khớp xảy ra hàng năm trên toàn thế giới, trong đó có 30-50% là các tổn thương gân và dây chằng. Chấn thương xương khớp do nhiều nguyên nhân như: tai nạn giao thông, trong sinh hoạt hàng ngày hay trong quá trình chơi thể thao.

    Chấn thương mô mềm cấp tính liên quan đến thể thao là kết quả của các chấn thương đơn lẻ như căng cơ, bong gân hoặc rách dây chằng. Tổn thương mô mềm mãn tính thường là kết quả của quá trình vận động cơ học, ban đầu là những biểu hiện mệt mỏi, căng thẳng. Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần dẫn đến viêm và dần dần phát triển

    2. Phương pháp điều trị

    Chấn thương xương khớp không chỉ gây đau đớn cho chính bệnh nhân mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Một số phương pháp điều trị như: RICE, vật lý trị liệu, tiêm corticosteroid hay phẫu thuật can thiệp. Theo đó, các phương pháp điều trị đều nhằm mục đích an toàn, hiệu quả để giúp bệnh nhân nhanh chóng quay trở lại cuộc sống bình thường.

    Gần đây, cùng với sự tiến bộ trong y sinh và công nghệ sinh học, các phương pháp điều trị tổn thương xương khớp sử dụng liệu pháp tế bào, công nghệ mô hay ứng dụng các sản phẩm máu tự thân để thúc đẩy quá trình chữa lành vết thương, tái tạo mô, kích thích sự tăng sinh, di chuyển và biệt hóa của nhiều loại tế bào, trong đó có tế bào tạo xương. Ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) trong điều trị tổn thương cơ xương khớp, đặc biệt là những chấn thương liên quan đến thể thao ngày càng được quan tâm nhiều hơn.

    Liệu pháp PRP được ứng dụng trong điều trị tổn thương cơ xương khớp

    3. Liệu pháp điều trị bằng huyết tương giàu tiểu cầu (PRP)

    Rất nhiều người băn khoăn thắc mắc không biết liệu pháp PRP phương pháp PRP có tốt không? Thực tế, Huyết tương giàu tiểu cầu (platelet rich plasma – PRP) là sản phẩm máu tự thân có chứa hàm lượng tiểu cầu cao hơn nhiều lần lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi. Hạt α trong tiểu cầu chứa một lượng lớn các protein và các nhân tố tăng trưởng quan trọng không những có vai trò đông máu mà còn tham gia vào quá trình chữa lành vết thương, tái tạo mô, tổng hợp collagen.

    Quá trình phân tách PRP rất đơn giản nhưng đòi hỏi các thao tác phải được thực hiện trong điều kiện vô trùng cao. Vì PRP được phân tách từ máu tự thân nên nó an toàn, không gây đáp ứng miễn dịch và giảm thiểu tối đa các nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm (HIV, viêm gan B,C). Do đó, liệu pháp PRP đã và đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực y học khác nhau như: thẩm mỹ (trẻ hóa da mặt, cải thiện sắc tố da, điều trị sẹo), nha khoa, phẫu thuật chỉnh hình, sản – phụ khoa. Hiện nay, liệu pháp PRP đang là một trong những liệu pháp hiệu quả trong điều trị tổn thương cơ xương khớp, đặc biệt là các chấn thương nghiêm trọng có liên quan đến thể thao bao gồm:

    • Tổn thương cơ
    • Tổn thương gân (Viêm gân Achilles, Viêm lồi cầu ngoài khuỷu tay)
    • Tổn thương dây chằng

    Link bài viết gốc: https://www.vinmec.com/co-xuong-khop/suc-khoe-thuong-thuc/lieu-phap-prp-dieu-tri-ton-thuong-co-xuong-phan-mem-do-tai-nan-va-choi-thao/