Tag: Huyết tương giàu tiểu cầu

  • Hiệu quả của phương pháp cắt dây thần kinh khớp gối bằng sóng cao tần so với huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị viêm khớp đầu gối mãn tính

    Hiệu quả của phương pháp cắt dây thần kinh khớp gối bằng sóng cao tần so với huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị viêm khớp đầu gối mãn tính

    Đặt vấn đề

    Thoái hóa khớp gối mãn tính là một vấn đề phổ biến cùng với sự gia tăng của dân số già. Xung cao tần (PRF) và tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) trong điều trị khớp là những phương thức có mang lại hiệu quả đã được chứng minh rõ ràng để giảm đau ở những nhóm bệnh nhân cao tuổi.

    Mục tiêu

    Mục tiêu chính trong nghiên cứu này là so sánh 2 phương thức liên quan đến giảm đau được đánh giá bằng thang đo VAS (visual analog scale). Mục tiêu phụ tập trung vào sự thay đổi của Chỉ số Lequesne.

    Thiết kế nghiên cứu: Single-blind randomized interventional clinical trial.

    Bối cảnh: Bệnh viện đại học.

    Phương pháp

    Hai trăm bệnh nhân thoái hóa khớp gối mãn tính được phân bố ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Nhóm PRF nhận được xung cao tần, trong khi nhóm PRP nhận được huyết tương giàu tiểu cầu nội khớp. Thang đo VAS và chỉ số Lequesne được đánh giá trước can thiệp, sau một tuần (chỉ dành cho thang VAS), sau 3, 6 và 12 tháng.

    Kết quả

    Thang đo VAS ở nhóm PRF thấp hơn đáng kể so với nhóm PRP sau 6 và 12 tháng với giá trị P lần lượt là 0,01 và 0,04. Liên quan đến chỉ số sau can thiệp về mức độ nghiêm trọng của viêm xương khớp, nhóm PRF thấp hơn đáng kể so với nhóm PRP với giá trị P là 0,001 sau 3, 6 và 12 tháng theo dõi.

    Hạn chế

    Vật lý trị liệu và giảm đau không được đưa vào thu thập dữ liệu và không có nhóm đối chứng.

    Kết luận

    PRF thể có thể được xem là vượt trội so với tiêm huyết tương giàu tiểu cầu vào khớp gối để giảm đau kéo dài và chỉ số mức độ nghiêm trọng thấp hơn ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối mãn tính.

    Lược dịch từ tổng quan của nghiên cứu Elawamy, Abdelraheem et al. “Efficacy of Genicular Nerve Radiofrequency Ablation Versus Intra-Articular Platelet Rich Plasma in Chronic Knee Osteoarthritis: A Single-Blind Randomized Clinical Trial.” Pain physician vol. 24,2 (2021): 127-134.

  • Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu nhiều lần vượt trội hơn so với tiêm PRP một lần hoặc nước muối trong viêm khớp gối

    Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu nhiều lần vượt trội hơn so với tiêm PRP một lần hoặc nước muối trong viêm khớp gối

    Giới thiệu

    Mục đích chính của nghiên cứu này nhằm chứng minh hiệu quả của liệu pháp tiêm PRP đối với chứng đau đầu gối và các chức năng bằng so sánh bệnh nhân bị viêm khớp nhẹ đến trung bình được tiêm PRP với nhóm đối chứng giả dược và cũng để hiểu hiệu quả của nhiều liều so với một liều duy nhất. Người ta đưa ra giả thuyết rằng PRP sẽ cho hiệu quả hơn so với giả dược sau 1, 3, 6, 12 và 24 tháng sau khi điều trị.

    Vật liệu và phương pháp

    237 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh viêm khớp được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm như sau: một liều PRP (n: 62), một liều nước muối natri (NS) (n: 59), ba liều PRP (n: 63) và ba liều NS (n: 53). Đánh giá lâm sàng được thực hiện trước và sau điều trị từ 1, 3, 6, 12 và 24 tháng, sử dụng Điểm kết quả chấn thương đầu gối và viêm xương khớp (KOOS), Điểm Kujala Patellofemoral, phạm vi chuyển động khớp gối (ROM), đo lường chu vi đầu gối (KC), và góc trục cơ học (MAA) và Thang đo tương tự trực quan (VAS) để đánh giá cơn đau.

    Kết quả

    Giá trị điểm tốt hơn trong các nhóm được ghi nhận vào thời điểm 3 và 6 tháng. Bệnh nhân được điều trị bằng PRP duy trì điểm số tốt hơn sau 3, 6 và 12 tháng so với nhóm NS (p <0,05). Nhiều liều PRP được cho là hiệu quả hơn PRP một liều sau 6 và 12 tháng (p <0,05). Vào cuối tháng thứ 24, không có sự khác biệt đáng kể về điểm giữa tất cả các nhóm. Sự thay đổi tích cực nhất về điểm số được tìm thấy ở bệnh viêm khớp giai đoạn 2 và thay đổi tích cực nhất về ROM là ở bệnh nhân viêm khớp giai đoạn 3. Trong các nhóm PRP, KC giảm nhiều hơn sau 1 và 6 tháng (p <0,05). So với các nhóm tuổi khác, bệnh nhân 51-65 tuổi có kết quả tốt hơn sau 6 tháng (p < 0,05). Một mối tương quan âm đã được xác định với điểm MAA (r = – 0,508, p <0,001).

    Kết luận

    So với giả dược (NS), điều trị PRP giàu bạch cầu được xác định là có hiệu quả trong điều trị viêm khớp. Nhiều liều PRP làm tăng hiệu quả và thời gian điều trị. Trong số tất cả các bệnh nhân được điều trị bằng PRP, kết quả tốt nhất đạt được ở những bệnh nhân ở độ tuổi 51-65, với MAA thấp hơn và bệnh nhân viêm khớp giai đoạn 2 K/L.

    Thiết kế nghiên cứu

    Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng; Mức độ bằng chứng, 1.

    Lược dịch từ tổng quan của nghiên cứu: Yurtbay, Alparslan et al. “Multiple platelet-rich plasma injections are superior to single PRP injections or saline in osteoarthritis of the knee: the 2-year results of a randomized, double-blind, placebo-controlled clinical trial.” Archives of orthopaedic and trauma surgery vol. 142,10 (2022): 2755-2768. doi:10.1007/s00402-021-04230-2

  • Tác dụng tạm thời của huyết tương giàu tiểu cầu đối với cơn đau và chức năng thể lý trong điều trị thoái hóa khớp gối

    Tác dụng tạm thời của huyết tương giàu tiểu cầu đối với cơn đau và chức năng thể lý trong điều trị thoái hóa khớp gối

    Bối cảnh

    Có khá nhiều thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCT) nghiên cứu về hiệu quả của huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) trong điều trị viêm xương khớp gối (OA) và đã được công bố gần đây. Do đó, một đánh giá hệ thống mới nhất đã được thực hiện để đánh giá tác động tạm thời của PRP đối với chứng đau đầu gối và chức năng thể lý.

    Phương pháp

    Pubmed, Embase, thư viện Cochrane và Scopus đã được tìm kiếm cho các RCT ở người nhằm so sánh hiệu quả và/hoặc độ an toàn của việc tiêm PRP với các mũi tiêm nội khớp khác. Một bản tóm tắt mô tả và đánh giá chất lượng đã được thực hiện cho tất cả các nghiên cứu cuối cùng được đưa vào để phân tích. Đối với các nghiên cứu báo cáo kết quả liên quan đến Chỉ số viêm khớp của Đại học Western Ontario và McMaster (WOMAC) hoặc các tác dụng phụ, một mô hình tác động ngẫu nhiên (random-effect model) đã được sử dụng để tổng hợp dữ liệu.

    Kết quả

    14 RCT bao gồm 1423 người tham gia. Đối chứng bao gồm giả dược nước muối, HA, ozone và corticosteroid. Thời gian theo dõi dao động từ 12 tuần đến 12 tháng. Kết quả cho thấy 4 nghiên cứu được xem là có sai số trung bình và 10 nghiên cứu có sai số cao. So với đối chứng, tiêm PRP làm giảm đáng kể các điểm đau theo thang WOMAC sau 3, 6 và 12 tháng theo dõi (p = 0,02, 0,004, <0,001, tương ứng); PRP cải thiện đáng kể các điểm trên thang chức năng vật lý của WOMAC sau 3, 6 và 12 tháng (p = 0,002, 0,01, <0,001, tương ứng); PRP cũng cải thiện đáng kể tổng điểm WOMAC sau 3, 6 và 12 tháng (tất cả p <0,001); tuy nhiên, PRP không làm tăng nhiều nguy cơ biến chứng sau tiêm (RR, 1,40 [95% CI, 0,80 đến 2,45],2 = 59%, p = 0,24).

    Kết luận

    Tiêm PRP nội khớp cho hiệu quả cao hơn trong điều trị viêm khớp gối về mặt giảm đau và tự đánh giá là cải thiện chức năng sau 3, 6 và 12 tháng theo dõi, so với các mũi tiêm khác, bao gồm giả dược nước muối, HA, ozon và corticosteroid.

    Sơ đồ quy trình nghiên cứu
    Tóm tắt sai số của tất cả các nghiên cứu bao gồm. Minh họa đánh giá chất lượng phương pháp luận của từng nghiên cứu ở 8 lĩnh vực. + có nghĩa là sai số thấp, ? có nghĩa là sai số không rõ ràng và − có nghĩa là sai số cao

    Biểu đồ rừng thể hiện tác động của PRP đối với điểm đau theo thang WOMAC sau 3, 6 và 12 tháng so với đối chứng. ( IV , phương sai nghịch đảo; MH , Mantel-Haenszel; CI , khoảng tin cậy)

    Biểu đồ rừng thể hiện tác động của PRP đối với chức năng thể lý theo thang WOMAC sau 3, 6 và 12 tháng so với đối chứng. ( IV , phương sai nghịch đảo; MH , Mantel-Haenszel; CI , khoảng tin cậy)
    Biểu đồ rừng thể hiện tác động của PRP đối với tổng điểm WOMAC sau 3, 6 và 12 tháng so với đối chứng. ( IV , phương sai nghịch đảo; MH , Mantel-Haenszel; CI , khoảng tin cậy)
    Biểu đồ rừng so sánh nguy cơ xảy ra các sự kiện bất lợi giữa PRP và đối chứng. ( MH , Mantel-Haenszel; CI , khoảng tin cậy)

    Lược dịch từ tổng quan của nghiên cứu: Shen, Longxiang et al. “The temporal effect of platelet-rich plasma on pain and physical function in the treatment of knee osteoarthritis: systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials.” Journal of orthopaedic surgery and research vol. 12,1 16. 23 Jan. 2017, doi:10.1186/s13018-017-0521-3

  • Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu nội khớp cho hiệu quả vượt trội so với tiêm axit hyaluronic hay steroid trong điều trị viêm khớp gối mức độ nhẹ đến trung bình

    Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu nội khớp cho hiệu quả vượt trội so với tiêm axit hyaluronic hay steroid trong điều trị viêm khớp gối mức độ nhẹ đến trung bình

    Mục tiêu

    Nhằm so sánh hiệu quả và độ an toàn của việc tiêm trong khớp huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) với axit hyaluronic (HA) và nhóm đối chứng glucocorticosteroid (CS) đối với bệnh thoái hóa khớp gối (KOA) trong thử nghiệm ngẫu nhiên, song song ba, đơn lẻ.

    Phương pháp

    Phân ngẫu nhiên 75 bệnh nhân vào ba nhóm, nhóm được tiêm một lần huyết tương giàu tiểu cầu nghèo bạch cầu (25 khớp gối), axit hyaluronic (25 khớp gối) hoặc glucocorticosteroid (25 khớp gối). Điểm WOMAC (Western Ontario and McMaster Universities Osteoarthritis Index) được ghi nhận tại thời điểm ban đầu và sau 6 tuần, 12 tuần, 26 tuần điều trị.

    Kết quả

    Sau 6 tuần sử dụng PRP, giá trị WOMAC trung bình được ghi nhận giảm ở cả ba nhóm nghiên cứu. Sau khi theo dõi 3 tháng, giá trị WOMAC trung bình trong nhóm PRP có mức giảm lớn nhất. Kết quả ở nhóm HA và CS tương tự nhau (p=0,681). Trong phân tích phương sai một chiều và phân tích post hoc bằng kiểm định HSD Tukey, sự cải thiện đáng kể đã được thể hiện bằng kết quả so sánh các nhóm PRP – CS (p = 0,001) và các nhóm PRP – HA (p = 0,010). Khi tiêm CS, hiệu quả giảm đau cao nhất đạt sau 6 tuần kể từ khi tiêm và giá trị trung bình là thấp nhất trong tất cả các nhóm. Trong các lần thăm khám tiếp theo, điểm thang đau tăng lên và sau 6 tháng, giá trị này cao nhất trong số các nhóm được nghiên cứu. Sử dụng kiểm định theo cặp Wilcoxon, không tìm thấy tác dụng PRP làm giảm cứng khớp sau 6 tháng theo dõi (p = 0,908). Cải thiện chức năng đạt được trong tất cả các nhóm, nghĩa là, giá trị trên thang đau giảm sau 6 tháng. Mức giảm lớn nhất được thấy ở nhóm nhận PRP (p <0,001) và sau đó là nhóm HA. Mức giảm nhỏ nhất trong số các phương pháp được nghiên cứu xuất hiện trong nhóm CS.

    Kết luận

    Tiêm PRP trong khớp có thể mang lại sự cải thiện chức năng đáng kể về mặt lâm sàng trong ít nhất 6 tháng ở những bệnh nhân bị KOA nhẹ đến trung bình, hiệu quả vượt trội so với tiêm HA hoặc CS.

    Sơ đồ quy trình CONSORT của thử nghiệm.

    Điểm đau trung bình (thang WOMAC)

    Giá trị độ cứng trung bình (thang WOMAC)

    Trung bình điểm chức năng của khớp gối (Thang WOMAC)

    Giá trị WOMAC trung bình.
    Cải thiện quan trọng về mặt lâm sàng.

    Lược dịch từ tổng quan của nghiên cứu: Szwedowski, Dawid et al. “Intra-Articular Injection of Platelet-Rich Plasma Is More Effective than Hyaluronic Acid or Steroid Injection in the Treatment of Mild to Moderate Knee Osteoarthritis: A Prospective, Randomized, Triple-Parallel Clinical Trial.” Biomedicines vol. 10,5 991. 25 Apr. 2022, doi:10.3390/biomedicines10050991

  • Nghiên cứu điều trị viêm khớp gối bằng liệu pháp PRP

    Nghiên cứu điều trị viêm khớp gối bằng liệu pháp PRP

    Mục tiêu

    Nhằm đánh giá hiệu quả, đo lường kết quả từ bệnh nhân bị viêm khớp gối được tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) so với được tiêm giả dược và sử dụng các phương pháp điều trị nội khớp khác.

    Thiết kế

    PubMed, Cochrane Library, Scopus, Embase, Web of Science, cũng như tài liệu ngoài khác đã được tìm kiếm vào ngày 17 tháng 1 năm 2020. Các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCT) nhằm so sánh việc tiêm PRP với giả dược hoặc các phương pháp điều trị bằng đường tiêm khác trên người. Sai số được đánh giá theo hướng dẫn của Cochrane; chất lượng bằng chứng được phân loại theo hướng dẫn GRADE.

    Kết quả

    34 RCT, bao gồm 1403 khớp gối trong nhóm được tiêm PRP và 1426 trong nhóm đối chứng đã được chọn. Chỉ số WOMAC (Western Ontario and McMaster Universities Osteoarthritis Index) đã thể hiện sự ủng hộ đối với PRP, cùng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và ý nghĩa lâm sàng so với giả dược sau 12 tháng theo dõi ( P = 0,02) và so với HA (axit hyaluronic) sau 6 tháng ( P < 0,001) ), theo dõi 12 tháng ( P < 0,001). Có sự khác biệt đáng kể về mặt lâm sàng ủng hộ PRP so với steroid đã được ghi nhận đối với đau VAS (Visual Analogue Scale) (P <0,001), đau KOOS (Knee Injury and Osteoarthritis Outcome Score) ( P < 0,001), chức năng trong các hoạt động hàng ngày (P= 0,001) và chất lượng cuộc sống ( P < 0,001) sau 6 tháng theo dõi. Tuy nhiên, tính ưu việt của PRP không đạt được sự khác biệt tối thiểu quan trọng về mặt lâm sàng đối với tất cả các kết quả và cũng như chất lượng bằng chứng thấp.

    Kết luận

    Tác dụng của huyết tương giàu tiểu cầu vượt xa tác dụng giả dược và tiêm PRP mang lại kết quả tốt hơn so với các phương pháp tiêm khác. Lợi ích này tăng theo thời gian, không đáng kể ở những lần theo dõi trước đó nhưng trở nên có ý nghĩa lâm sàng sau 6 đến 12 tháng. Tuy nhiên, mặc dù đáng kể, sự cải thiện của bệnh lý vẫn chỉ mới một phần và với mức độ bằng chứng thấp. Phát hiện này thúc đẩy nghiên cứu sâu hơn để xác định lợi ích, công thức và chỉ định tốt nhất cho việc tiêm PRP trong viêm khớp gối.

    Sơ đồ PRISMA của quá trình thu thập nghiên cứu.
    Bảng phân tích tổng hợp cho các kết quả nghiên cứu khác nhau.

    Lược dịch từ tổng quan của nghiên cứu: Filardo, Giuseppe et al. “PRP Injections for the Treatment of Knee Osteoarthritis: A Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials.” Cartilage vol. 13,1_suppl (2021): 364S-375S. doi:10.1177/1947603520931170

  • ỨNG DỤNG HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM

    ỨNG DỤNG HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM

    27/02/2020 

    Là trung tâm Trung tâm Hỗ trợ sinh sản đầu tiên được cấp phép chính thức trong việc nghiên cứu và ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân để cải thiện độ dày của niêm mạc tử cung, tăng tỷ lệ thành công trong thụ tinh ống nghiệm; IVF Tâm Anh kỳ vọng sẽ tiếp tục vị thế dẫn đầu cũng như tạo đột phá về tỷ lệ IVF thành công trong năm 2020. Niềm ước mơ của rất nhiều bệnh nhân vô sinh hiếm muộn sẽ sớm trở thành sự thật tại IVF Tâm Anh…

    Niêm mạc tử cung là gì?

    Niêm mạc tử cung – hay còn được gọi là nội mạc tử cung – là lớp phủ toàn bộ bề mặt phía trong của tử cung, có cấu tạo gồm 2 phần là lớp đáy và lớp nông. Lớp đáy – hay nội mạc căn bản – là các tế bào mô trụ tuyến và mô đêm, không chịu nhiều biến đổi của chu kỳ kinh nguyệt. Lớp nông – hay nội mạc tuyến – chịu sự tác động lớn trong thời kỳ kinh nguyệt. 

    Niêm mạc tử cung đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình thụ thai và mang thai ở người phụ nữ. Niêm mạc tử cung quá dày hoặc quá mỏng có thể là nguyên nhân gây khó thụ thai, hiếm muộn ở nữ giới.

    Lớp niêm mạc tử cung dưới sự tác động của hormone sinh dục nữ sẽ trở nên dày lên tùy theo từng thời điểm cụ thể trong tháng, phụ thuộc vào chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ. 

    Niêm mạc tử cung dày lên khi tới giai đoạn chuẩn bị để cho trứng đã thụ tinh làm tổ. Nếu như trứng không được thụ tinh thì lớp niêm mạc này sẽ bị bong tróc và được đẩy ra ngoài cơ thể và hình thành hiện tượng hành kinh ở phụ nữ. 

    Ảnh hưởng của niêm mạc tử cung mỏng tới khả năng mang thai

    Để có được một chu kỳ thụ tinh ống nghiệm thành công, bên cạnh chất lượng của phôi thì việc chuẩn bị các điều kiện của người mẹ để đảm bảo việc làm tổ, phát triển phôi là hết sức quan trọng. Một trong những điều kiện này là yêu cầu độ dày niêm mạc tử cung phù hợp. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu niêm mạc tử cung tại thời điểm chuyển phôi mỏng hơn 7mm thì tỷ lệ thất bại sẽ rất cao. Ngay cả khi thai nhi đã làm tổ thì khả năng giữ lại thai trong tử cung trong suốt quá trình mang thai vẫn rất khó khăn bởi lớp niêm mạc tử cung mỏng quá mức sẽ không đủ khả năng giữ phôi thai lại. Hậu quả là dẫn tới nguy cơ trạng sảy thai hoặc thai lưu.

    Niêm mạc tử cung mỏng là do quá trình phát triển của niêm mạc tử cung bị suy giảm, có thể do nhiều yếu tố mà phổ biến là do viêm nhiễm hay do hậu quả của quá trình điều trị liên quan đến tử cung. Đó có thể do hậu quả của phẫu thuật như nạo phá thai nhiều lần, cắt bỏ polyp, phẫu thuật nội soi tử cung cũng như liệu pháp sử dụng thuốc không hợp lý, hoặc cũng có thể do cấu trúc niêm mạc tử cung của bệnh nhân bị mỏng do yếu tố bẩm sinh. 

    Chính vì vậy, để cải thiện độ dày của niêm mạc tử cung, nhiều liệu pháp đã được áp dụng tại các đơn vị Hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam để giúp niêm mạc tử cung đạt độ dày “lý tưởng” như theo dõi chu kỳ tự nhiên, sử dụng thuốc nội tiết ngoại sinh, kích thích buồng trứng…Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp niêm mạc tử cung không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với các liệu pháp trên dẫn tới niêm mạc tử cung phát triển không đầy đủ. Chính vì vậy, việc phát triển các kỹ thuật mới, liệu pháp mới để điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân này là hết sức cần thiết.

    PGS.TS.BS Lê Hoàng – Giám đốc Trung tâm hỗ trợ sinh sản BVĐK Tâm Anh, Hà Nội đang thực hiện một trong những thủ thuật trong điều trị vô sinh hiếm muộn cho người bệnh

    Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân – vũ khí mới giúp cải thiện độ dày niêm mạc tử cung

    Theo định nghĩa, huyết tương giàu tiểu cầu là huyết tương có lượng tiểu cầu nhiều gấp 2-10 lần so với huyết tương bình thường và có nhiều yếu tố tăng trưởng và cytokin. Huyết tương giàu tiểu cầu thu được thông qua quá trình lấy máu tự thân, xử lý mẫu máu, quay ly tâm và thu được. Nghiên cứu cho thấy rằng tiểu cầu là một nguồn phong phú các yếu tố tăng trưởng và cytokine mà có thể ảnh hưởng đến phản ứng viêm, mất máu sau phẫu thuật, nhiễm trùng, tạo xương, lành hóa vết thương, vết rách cơ và các mô mềm. PRP không chỉ thúc đẩy việc loại bỏ các mô bị thoái hóa và hoại tử, mà còn kích thích sự tái tạo mô và lành hóa.  

    Việc sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) tự thân để điều trị thiểu sản niêm mạc tử cung đã được thử nghiệm lâm sàng thành công ở nhiều quốc gia. 

    Một thử nghiệm tại Iran vào năm 2017, do tiến sĩ Zadehmodarres và cộng sự đã tuyển chọn 10 bệnh nhân có tiền sử phát triển NMTC không đầy đủ trong chu kỳ chuyển phôi đông lạnh để thực hiện nghiên cứu và người vợ đã được truyền 0,5 ml PRP 2 lần trước khi tiến hành chuyển phôi. Kết quả là tất cả bệnh nhân được truyền PRP đều tăng độ dày NMTC, trong đó có 5 người mang thai và 4/5 người mang thai bình thường. 

    Các quốc gia khác như Ý, Iran, Trung Quốc, Ấn Độ, Venezuela cũng đã sử dụng liệu pháp này và cho thấy hiệu quả và an toàn do PRP tự thân được điều chế từ chính máu của bệnh nhân và được bơm truyền lại cho chính họ vì vậy đây là chế phẩm sinh học tương thích nhất với cơ thể người bệnh và tránh được tình trạng thải ghép.

    Huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) tự thân là chế phẩm sinh học tương thích nhất với cơ thể người bệnh và tránh được tình trạng thải ghép

    Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội là đơn vị đầu tiên chính thức được Bộ Y tế cấp phép nghiên cứu sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị nội mạc tử cung mỏng ở các bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm. Do đó, Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cũng trở thành đơn vị hỗ trợ sinh sản nghiên cứu tiên phong và mang đến một phương pháp điều trị mới ở Việt Nam cho những người thụ tinh trong ống nghiệm nhưng có nguy cơ thai khó làm tổ do nội mạc tử cung mỏng hay giảm khả năng chấp nhận của nội mạc tử cung.

    Việc ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị vô sinh hiếm muộn được triển khai và phối hợp chặt chẽ giữa hai Trung tâm mũi nhọn của bệnh viện là Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Trung tâm Tế bào gốc, giúp việc xử lý mẫu máu để thu được huyết tương giàu tiểu cầu tự thân của người bệnh được xử lý một cách liền mạch trong công nghệ tiên tiến nhất và trở thành chế phẩm sinh học có chỉ tiêu chất lượng cao và an toàn khi sử dụng. Bên cạnh đó, với quy trình quản lý chất lượng nghiêm ngặt, huyết tương giàu tiểu cầu tự thân khi sử dụng trong điều trị vô sinh hiếm muộn tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh bảo đảm đáp ứng được tất cả các tiêu chí khắt khe trong Y tế.

    PGS.TS.BS Lê Hoàng – Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh – cho biết: “Sử dụng phương pháp dùng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân là một bước tiến rất quan trọng trong việc điều trị vô sinh hiếm muộn, vì đây là kỹ thuật mới mà thế giới mới đưa vào sử dụng trong thời gian gần đây. Để được Bộ Y tế cấp phép chính thức triển khai tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là kết quả của một sự chuẩn bị lâu dài từ trang thiết bị máy móc tới nguồn nhân lực. Thật may mắn vì tại BVĐK Tâm Anh đã có Trung tâm Tế bào gốc đã hỗ trợ chúng tôi tự chủ được toàn bộ quá trình nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật mới vào thực tiễn điều trị. Đây không còn là vấn đề của riêng Trung tâm Hỗ trợ sinh sản nữa, mà phải có sự kết hợp của nhiều chuyên khoa khác nhau tại BVĐK Tâm Anh, phối hợp trong một quy trình khép kín, qua đó rút ngắn được thời gian, đảm bảo về chất lượng và tiết kiệm được chi phí, thời gian cho người bệnh.”

    Với việc đưa vào ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị vô sinh hiếm muộn để cải thiện độ dày của niêm mạc tử cung, IVFTA hiện là trung tâm hỗ trợ sinh sản hàng đầu Việt Nam có đầy đủ nhất các phương tiện kỹ thuật hiện đại, các phác đồ điều trị hiệu quả với sự tham gia điều trị trực tiếp của các chuyên gia giàu kinh nghiệm, từ đó giúp trung tâm luôn giữ ổn định và liên tục nâng cao tỷ lệ thành công trong IVF.

    Quy trình thực hiện bơm huyết tương giàu tiểu cầu tự thân 

    Trường hợp nào nên sử dụng kỹ thuật bơm huyết tương giàu tiểu cầu? 

    Bệnh nhân nữ thực hiện chuyển phôi đông lạnh trong quá trình thụ tinh ống nghiệm tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh ở độ tuổi từ 20 – 40, có 1 trong 2 đặc điểm sau:

    • Bệnh nhân có độ dày nội mạc tử cung < 7 mm ở ngày 11-12 của chu kỳ chuyển phôi đông lạnh sau khi đã sử dụng phác đồ chuẩn bị niêm mạc bằng thuốc theo phác đồ của bệnh viện.
    • Bệnh nhân bị thất bại làm tổ liên tiếp có nguyên nhân do niêm mạc tử cung mỏng.

    Quy trình thực hiện bơm huyết tương giàu tiểu cầu tự thân tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh được thực hiện như thế nào?

    SƠ ĐỒ MÔ TẢ KHÁI QUÁT QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ

    Link bài viết gốc: https://tamanhhospital.vn/ung-dung-huyet-tuong-giau-tieu-cau-trong-thu-tinh-ong-nghiem/

  • Huyết tương giàu tiểu cầu giúp tăng số lượng tinh trùng, khả năng sinh sản của nam giới

    Huyết tương giàu tiểu cầu giúp tăng số lượng tinh trùng, khả năng sinh sản của nam giới

    Đánh giá khả năng sinh sản của nam giới

    Phân tích tinh dịch là tiêu chuẩn vàng để đánh giá số lượng, khả năng vận động và khả năng sinh sản của tinh trùng. Phân tích tinh dịch sẽ giúp bác sĩ xác định khả năng sống sót của tinh trùng. Nó cũng sẽ kiểm tra xem số lượng tinh trùng hoặc rối loạn chức năng tinh trùng có gây vô sinh hay không. Phân tích tinh dịch đồ là một bài kiểm tra khả năng sinh sản của nam giới rất đơn giản, thu thập một số điểm dữ liệu chính, nhưng tập trung vào ba thuộc tính chính của tinh trùng:

    • Số lượng tinh trùng –  nồng độ tinh trùng trên mỗi mL tinh dịch
    • Khả năng vận động của tinh trùng –  tinh trùng di chuyển tốt như thế nào với sự tiến triển về phía trước
    • Hình thái tinh trùng – hình dạng và sự xuất hiện của tinh trùng

    Nếu xét nghiệm tinh dịch đồ cho kết quả bất thường, chuyên gia sinh sản của bạn có thể đề nghị xét nghiệm khả năng sinh sản bổ sung cho nam giới . Điều quan trọng cần nhớ là kết quả phân tích tinh dịch chỉ là thước đo các thông số tinh trùng của bạn tại một thời điểm cụ thể. Có rất nhiều cách để bạn tăng số lượng tinh trùng và cải thiện khả năng sinh sản nói chung

    Các lựa chọn điều trị để cải thiện tỷ lệ mang thai với nam giới

    Thụ tinh nhân tạo (IUI) – IUI, thường được gọi là thụ tinh nhân tạo, là một thủ thuật đơn giản trong đó tinh trùng được thu thập, cô đặc và gửi vào tử cung của người phụ nữ.

    Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) – IVF là tiêu chuẩn vàng của y học sinh sản và phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả nhất hiện có. Điều trị IVF mang lại tỷ lệ thành công cao nhất và thời gian mang thai nhanh nhất so với bất kỳ Công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART) nào.

    Tiêm tinh trùng vào bào tương – ICSI là một quy trình sinh sản tiên tiến được thực hiện trong phòng thí nghiệm phôi học trong quá trình điều trị IVF, trong đó một tinh trùng được tiêm trực tiếp vào trứng của người phụ nữ để tạo phôi được thụ tinh.  

    Trích xuất tinh hoàn – Quy trình trích xuất tinh trùng là quy trình phẫu thuật được thực hiện để lấy tinh trùng từ một số bộ phận trong đường sinh sản của nam giới khi không có tinh trùng trong tinh dịch.

    Huyết tương giàu tiểu cầu tinh hoàn (PRP) – PRP là một sản phẩm máu cô đặc có chứa một tỷ lệ cao các phân tử sinh học có đặc tính chữa bệnh và tái tạo tự nhiên. PRP tinh hoàn là một kỹ thuật thử nghiệm và sáng tạo được sử dụng cho nam giới bị azoospermia (không có tinh trùng trong lần xuất tinh) với mục tiêu đạt được dù chỉ một số lượng nhỏ tinh trùng hoạt động trong lần xuất tinh, sau đó có thể được sử dụng cho IVF với ICSI. Tại CNY, Tiến sĩ Mariabelle Vardiales hiện đang tiến hành nghiên cứu để xác định hiệu quả của phương pháp điều trị, cho đến nay kết quả có vẻ đầy hứa hẹn. 

    Lược dịch từ: https://www.cnyfertility.com/increase-male-fertility/

  • Quy trình PRP ứng dụng trong IVF và thất bại làm tổ

    Quy trình PRP ứng dụng trong IVF và thất bại làm tổ

    Trong những năm gần đây, Huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) đã được sử dụng cùng với các phương pháp hỗ trợ sinh sản phổ biến như Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) để cải thiện chất lượng trứng, độ dày niêm mạc tử cung và khả năng tiếp nhận của  nội mạc tử cung, chủ yếu trong điều trị thất bại làm tổ tái phát sau nhiều lần IVF. Mặc dù chưa có nguồn tài liệu khoa học phong phú cho thấy hiệu quả tổng thể, nhưng PRP đang được sử dụng ngày càng thường xuyên hơn do thành công lâm sàng của nó.

    PRP là gì?

    PRP là một sản phẩm máu cô đặc có chứa một tỷ lệ cao tiểu cầu (các phân tử sinh học có đặc tính chữa lành và tái tạo tự nhiên). Để hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xem xét thành phần máu một cách tổng thể. Nhìn chung, máu toàn phần bao gồm 4 thành phần chính:

    Huyết tương: thành phần lỏng của máu bao gồm chủ yếu là nước, muối hòa tan và protein. Nó chiếm hơn một nửa thể tích máu và cung cấp môi trường cho tất cả các thành phần khác trong máu được vận chuyển khắp cơ thể.

    Tiểu cầu: là các tế bào đóng vai trò quan trọng quá trình đông máu và giải phóng các chất khác cũng như các yếu tố tăng trưởng.

    Tế bào hồng cầu: là các tế bào tham gia vào quá trình trao đổi Oxy và Carbon Dioxide, mang oxy đến mô và loại bỏ carbon dioxide khỏi cơ thể.

    Tế bào máu trắng: Còn được gọi là bạch cầu, là các tế bào chịu trách nhiệm chính cho hệ thống miễn dịch của cơ thể.

    Theo Tiến sĩ Maribelle Verdiales, tiểu cầu trong PRP “chứa nhiều yếu tố tăng trưởng, giúp cơ thể chữa lành vết thương. Chúng đã được chứng minh là giúp đẩy nhanh quá trình lành bệnh và có khả năng chống lão hóa. . . đó là lý do tại sao nó đã được sử dụng trong 20 năm qua trong các lĩnh vực y học khác nhau.

    PRP được chuẩn bị như thế nào?

    PRP thường được sử dụng từ máu tự thân của bệnh nhân

    Bước 1: Quy trình PRP bắt đầu bằng việc chuyên viên y tế lấy một mẫu máu từ bệnh nhân, tương tự như lấy máu trong xét nghiệm.

    Bước 2: Máu được ly tâm (để tách các thành phần khác nhau của máu) trong khoảng 15 phút.

    Bước 3: Kỹ thuật viên phòng thí nghiệm thu thập huyết tương (giàu tiểu cầu và không có thành phần máu khác) để chuẩn bị tiêm.

    PRP được sử dụng như thế nào cho IVF và các phương pháp hỗ trợ sinh sản khác?

    PRP được sử dụng kết hợp trong một số phương pháp hỗ trợ sinh sản bao gồm IUI và IVF để hỗ trợ và cải thiện số lượng, chất lượng trứng và cải thiện độ dày niêm mạc tử cung, tăng cường khả năng tiếp nhận nội mạc tử cung trong quá trình chuyển phôi. Phương pháp này thường được sử dụng ở những người đã trải qua nhiều chu kỳ IVF, có tiền sử thất bại làm tổ (RIF), một tình trạng trong đó nhiều lần chuyển IVF không mang thai mặc dù được chuyển phôi nhiều lần. 

    PRP cải thiện Số lượng & Chất lượng Trứng

    PRP có thể được sử dụng để cải thiện chất lượng trứng và trẻ hóa buồng trứng.

    Có hai cách/quy trình PRP có thể được sử dụng để cải thiện chất lượng và số lượng tế bào trứng:

    PRP cho buồng trứng

    Quy trình này liên quan đến việc tiêm trực tiếp 1-3 ml PRP vào buồng trứng. Thủ tục này được thực hiện dưới sự chăm sóc gây mê theo dõi của bác sĩ. Trong suốt quá trình, kim chứa PRP được dẫn hướng qua sóng siêu âm xuyên qua thành âm đạo và đi vào buồng trứng, nơi PRP sau đó sẽ được tiêm vào.

    Lý tưởng nhất là quy trình này được thực hiện một, hai hoặc ba tháng TRƯỚC KHI bắt đầu thực hiện IVF. Nó có thể được thực hiện tại thời điểm lấy trứng , nhưng điều này sẽ chỉ có hiệu quả nếu người đó trải qua một chu kỳ kích thích IVF khác.

    PRP cho sự phát triển của niêm mạc tử cung và khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung (PRP Intrauterine Wash)

    PRP có thể được sử dụng để cải thiện khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung trước khi chuyển phôi. Điều này thường được thực hiện 48 giờ trước khi chuyển phôi dự kiến. Trong suốt quá trình, khoảng 3-5 ml được truyền vào tử cung bằng ống thông IUI. Bệnh nhân sẽ nghỉ ngơi trong 10 phút và sau đó được xuất viện để hoạt động bình thường hàng ngày. 

    Nếu nhằm mục đích phát triển niêm mạc (thường dành cho người có tiền sử không phát triển niêm mạc tử cung đầy đủ), việc rửa tử cung có thể được thực hiện theo quy trình. Lần truyền PRP đầu tiên sẽ được thực hiện khi kiểm tra lớp lót ban đầu và sau đó lặp lại 72 giờ sau nếu lớp lót vẫn không đủ.

    Mặc dù có nhiều tài liệu khoa học hiện tại ủng hộ, PRP là một phương pháp điều trị tuyệt vời để xem xét cùng với chuyên gia sinh sản của bạn trong điều trị thất bại cấy ghép tái phát.

    Lược dịch từ: https://www.cnyfertility.com/prp-for-ivf/#:~:text=How%20is%20PRP%20used%20for,receptivity%20during%20an%20embryo%20transfer.

  • Liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) – một cải tiến trong y học sinh sản

    Liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) – một cải tiến trong y học sinh sản

    Trung tâm hỗ trợ Sinh sản Gruzia – Đức, là một trong những trung tâm tiên phong trong lĩnh vực Y học Sinh sản giới thiệu liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu, mang lại hy vọng cho nhiều phụ nữ hiếm muộn.

    Phương pháp PRP là gì và nó sẽ làm tăng hiệu quả điều trị vô sinh đến mức nào?

    Không nhiều phương pháp điều trị trong y học vừa có thể đạt được hiệu quả điều trị trong các lĩnh vực khác nhau, vừa sẵn có, an toàn và hiệu quả đồng đều. Liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) là một trong những phương pháp điều trị cải tiến hiếm hoi đó trong y học hiện đại có tác dụng giảm đau, chống viêm, làm trẻ hóa và phục hồi các mô ở cấp độ tế bào. Liệu pháp PRP đã và đang được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực thẩm mỹ, chỉnh hình, thần kinh, chấn thương, v.v. Ngoài ra PRP hiện đã được giới thiệu trong phụ khoa, y học sinh sản và tiết niệu.

    Phương pháp PRP sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu được sử dụng lần đầu tiên cách đây gần ba thập kỷ. Và trong vài năm gần đây, các bác sĩ đã bắt đầu sử dụng phương pháp này để điều trị các vấn đề về tiết niệu, sinh sản và phụ khoa. Phương pháp này không sử dụng thuốc, phẫu thuật xâm lấn hoặc thiết bị y tế đắt tiền. Huyết tương giàu tiểu cầu được lấy từ máu tĩnh mạch ngoại vi của chính bệnh nhân, sau khi ly tâm và xử lý thích hợp, huyết tương được sử dụng dưới dạng vi tiêm vào các cơ quan cần trợ giúp. Chứa nồng độ cao hormone, peptide, vitamin và các yếu tố tăng trưởng, liệu pháp PRP có khả năng kích thích tăng trưởng mô, chống viêm, giảm đau, đơn giản, giúp duy trì dự trữ cụ thể ở một vùng cụ thể của cơ thể.

    Những ưu điểm của liệu pháp PRP trong y học sinh sản, phụ khoa và tiết niệu có thể được tóm tắt như sau: phạm vi sử dụng khá rộng, một số lựa chọn thay thế cho liệu pháp hormone, giá thành thấp, tác dụng phụ thấp, biến chứng và rủi ro nguy hiểm cực thấp. Điều đặc biệt hơn nữa liệu pháp PRP không mất nhiều thời gian. Do đặc tính giúp kích thích và “làm trẻ hóa” của PRP, chức năng của buồng trứng được tái kích hoạt, giúp cải thiện chất lượng trứng và do đó, cải thiện khả năng sinh sản của bệnh nhân.

    PRP có thể đạt được thành công tương tự trong điều trị các bệnh phụ khoa mãn tính như chứng lichen xơ hóa, xói mòn cổ tử cung và bạch sản, viêm vòi trứng mãn tính và viêm nội mạc tử cung, và quan trọng hơn là vô sinh do hiếm nang.

    Lược dịch từ: https://ivfggrc.com/platelet-rich-plasma-prp-therapy-an-innovation-in-reproductive-medicine-to-combat-infertility/

  • Trẻ hoá buồng trứng – sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu để khôi phục khả năng sinh sản ở bệnh nhân suy buồng trứng sớm

    Trẻ hoá buồng trứng – sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu để khôi phục khả năng sinh sản ở bệnh nhân suy buồng trứng sớm

    BS Lý Thiện Trung
    IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức

    Ngày càng có nhiều nghiên cứu về ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu (platelet-rich plasma – PRP) trên bệnh nhân suy buồng trứng sớm (premature ovarian insufficiency – POI) được công bố với các kết quả đáng khích lệ. Như vậy, cơ sở lý luận và sinh lý của tiểu cầu trong hoạt động buồng trứng là như thế nào?
     
    Nghiên cứu đầu tiên về việc ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu để trẻ hoá buồng trứng được công bố vào tháng 9 năm 2016. Nhóm nghiên cứu đến từ Athens đã mô tả về sự trẻ hoá buồng trứng và sự kích hoạt lại quá trình hình thành nang noãn ở 8 phụ nữ mãn kinh trên 5 năm. Các bệnh nhân này sau khi được truyền huyết tương giàu tiểu cầu tự thân đều có kinh lại sau khoảng 3 tháng, và tất cả đều được chọc hút noãn thành công. Tuy nhiên, gần đây nhất, vào năm 2021 một nghiên cứu ở Đài Loan trên 12 phụ nữ được chẩn đoán POI đã công bố kết quả. Độ tuổi các bệnh nhân trung bình khoảng 40 – 50 tuổi, vô kinh trong hơn một năm. Họ được tiêm vào buồng trứng hỗn hợp gồm huyết tương giàu tiểu cầu tự thân và FSH, sau đó siêu âm kiểm tra hàng tuần. Kết quả đạt được là 11 trong số 12 bệnh nhân có kinh trở lại sau 5 tuần, tuy nhiên hầu hết kinh không đều. Nhóm nhóm tác giả đề xuất rằng huyết tương giàu tiểu cầu kết hợp với gonadotrophin có thể giúp tăng xác suất có thai bằng noãn tự thân ở phụ nữ mãn kinh sớm. Báo cáo tiếp theo của nhóm công bố rằng nhóm bệnh trên đã chọc hút được tổng cộng 13 noãn trưởng thành, và được thực hiện tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (intracytoplasmic insemination – ICSI). Hai bệnh nhân đã được chuyển phôi giai đoạn phân chia, trong đó một bệnh nhân đã có thai lâm sàng và có trẻ sinh sống.
     
    Tác giả Atkinson đã mô tả rất chi tiết tất cả các nghiên cứu về trẻ hoá buồng trứng trong một bài tổng quan đăng trên tạp chí Human Reproduction năm 2021. Đáng chú ý là kết quả của nhóm nghiên cứu từ Athens báo cáo dữ liệu trên tổng số 120 bệnh nhân trong bốn nghiên cứu pilot về các bệnh nhân đáp ứng kém khi thực hiện IVF, các bệnh nhân POI, tiền mãn kinh và mãn kinh. Mặc dù kết quả có khác nhau giữa các nghiên cứu, nhưng nhóm tác giả đã khẳng định có sự cải thiện rõ rệt về tình trạng nội tiết và dự trữ buồng trứng của các bệnh nhân, cũng như cải thiện kết quả ICSI trên những bệnh nhân đáp ứng kém. Các nghiên cứu về vấn đề này ngày càng nhiều và có kết quả đáng khích lệ, điều này đặt ra sự cần thiết của một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng để xác nhận hiệu quả của liệu pháp PRP trên buồng trứng.
     
    Các nhà khoa học cũng đặt ra nhiều câu hỏi, ví dụ như: Các kết quả có hợp lý về mặt sinh học không? Hay chúng ta có nên xem xét chúng một cách nghiêm túc không? Rosario và Anderson đã mô tả PRP là “sự điều chế huyết tương tự thân với nồng độ tiểu cầu cao bằng việc ly tâm một lượng lớn máu của chính bệnh nhân”, PRP có “vô số yếu tố tăng trưởng và cytokine do tiểu cầu tạo ra”. Các bằng chứng rõ ràng rằng tiểu cầu có thể giải phóng một loạt các cytokine, và tín hiệu cytokine được kích hoạt hiệu quả khi tương tác với noãn, tế bào hạt và tế bào vỏ của nang noãn”. Bất kỳ rối loạn chức năng nào trong hệ thống noãn, tế bào hạt và tế bào vỏ đều dẫn đến sự bất thường trong quá trình trưởng thành noãn, phóng noãn và tạo lập hoàng thể. Vì vậy, PRP có thể được xem là một liệu pháp dễ tiếp cận, được cá thể hóa, hiệu quả về chi phí với các yếu tố tiền viêm và tăng sinh, có thể kích thích sự hình thành nang noãn, trưởng thành noãn và phóng noãn. Rosario và Anderson cũng đã liệt kê liệu pháp PRP cùng với các phương pháp khác để kích hoạt các nang nguyên thủy còn sót lại ở phụ nữ POI, ví dụ: điều trị bằng tế bào gốc trung mô chiết xuất từ tủy xương, nhau thai và máu kinh. Tuy nhiên, họ cũng lưu ý rằng phần lớn dữ liệu lâm sàng cho đến nay được lấy từ các nghiên cứu về PRP.
     
    Việc áp dụng PRP cần được lưu ý thận trọng. Các nghiên cứu được báo cáo cho đến nay là những nghiên cứu không có nhóm chứng và cũng chưa có mô tả chi tiết về cơ chế hoạt động của PRP như thế nào trên buồng trứng. Mặc dù PRP sử dụng nguồn tiểu cầu tự thân nhưng vẫn cần thận trọng khi áp dụng và cần phải nghiên cứu sâu hơn ở cấp độ tế bào. Các tác giả cũng cảnh báo rằng sự mất điều hòa của các bước đầu tiên trong quá trình trưởng thành noãn và phát triển phôi có thể ảnh hưởng quá trình phát triển của bào thai, từ đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh của trẻ sinh ra.
     
    Quay trở lại năm 2016 với lần đầu tiên vấn đề trẻ hóa buồng trứng được đề cập, các tiêu đề báo chí thời gian đó đều xoay quanh “sự kết thúc của mãn kinh”. Trước đó, vào năm 2004, Jonathan Tilly cũng có suy đoán về “tế bào tiền thân của noãn”. Một bài báo theo sau đã mô tả về sự cải thiện kết quả IVF ở những bệnh nhân tiên lượng kém sau khi được sử dụng ty thể tự thân có nguồn gốc từ các tế bào tiền thân noãn. Khám phá của Tilly cũng từng được coi là sự sụp đổ của mãn kinh. Tuy nhiên khái niệm này vẫn chưa được chấp nhận, vì cần phải có nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng chất lượng ủng hộ cho phương pháp này.
     
    Tóm lại PRP, cho đến nay có vẻ như là một hiện tượng. Tuy nhiên, để có thể chứng minh được vai trò của mình, phương pháp này cần thêm nhiều bằng chứng từ các nghiên cứu có độ tin cậy cao.

    Lược dịch từ: https://www.focusonreproduction.eu/article/News-in-Reproduction-Ovarian-rejuvenation